Vị thuốc Nghể răm

0
136

Tên tiếng Việt: Nghể răm, Răm nước, Thủy liễu, Rau nghể, Mã liễu, Phiắc phíe (Tày)Tên khoa họcPolygonum hydropiper L.

Tên đồng nghĩa: Persica hydropiper (L.) Spach

Họ: Polygonaceae (Rau răm)

Polygonum L. là chi lớn gồm các loài phân bố rộng rãi khắp thế giới. Ở Việt Nam có 30 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997), trong đó có gần 20 loài được dùng làm thuốc (Võ Văn Chi, 1996).

Nghể răm là loài phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Á và một phần lãnh thổ ở châu Âu. Ở châu Á, nghể răm được ghi nhận ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Malaysia, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Campuchia, Lào, và Trung Quốc…. Ở Việt Nam, nghể răm có ở khắp các tỉnh, từ đồng bằng đến trung du và vùng núi ( dưới 500m). Cây ưa sáng và đặc biệt ưa ẩm, nên thường mọc trên đất lầy thụt ở ruộng nước, bờ ruộng, ao, suối, kênh rạch…. Cây sinh trưởng gần như quanh năm, mạnh nhất vào mùa mưa ẩm, ra hoa quả nhiều; đẻ nhánh từ gốc và phân cành khoẻ.

Nghể răm ở Việt Nam được coi là loài cỏ dại, ảnh hưởng tới cây trồng.

Mua Son tint bóng căng mọng, trong trẻo BBIA Glow Tint 👙 🩱 

3. Bộ phận dùng

Toàn cây phơi hay sấy khô.

4. Thành phần hoá học

Toàn cây chứa các chất thuộc nhiều nhóm thành phần hoá học khác nhau:

  • Flavonoid 2 – 2,5% trong đó có quercetin, quercitrin, kaempferol, rutin, hyperosid (quercetin – 3 – galactosid), rhamnacin, rhamnacin kali bisulfat monoester, persicarin (isorhamnetin – 3 – kali bisulfat ester), persícarin – 7 – methyl – ether).
  • Theo một số tác giả, lá chứa nhiều flavonoid : quercetin – 3 – sulfat, isorhamnetin – 3,7 – disulfat và tamarixetin – 3 – glucosid – 7 – Sulfat ( Yagi Akữa và cs 1994), 7, 4′ – dimethylquercetin, 3’ – methyl quercetin, quercetin, isoquercitrin (Haraguchi Hừoyulci và cs, 1992).
  • Tính chất chống oxy hoá của một số flavonoid được sắp xếp theo thứ tự từ mạnh đến yếu : isoquercitrin > 7, 4’ – dimethylquercetin > quercetin > 3′ – methyl quercetin.
  • Tinh dầu 0,30 – 0,35% trong đó 1 chất chiếm 28,40% (thân), 29,00% (lá) và 1 chất 27,65% (thân) và 27,78% (lá). Các thành phần khác có trong tinh dầu thân và lá là: (humulen (theo thứ tự 7,06%, 7,14%), một chất có trọng lượng phân tử 218 (4,62%, 4,51%), một sesquiterpen alcol (4,86%, 4,89%) và curcumen (2,5%, 2,53%) (N.x Dũng và CS, 1994).
  • Tanin, acid hữu cơ (acid formic, acid acetic, acid valeric, acid malic, acid melissic).
  • Ngoài ra, còn có vitamin K, polygopiperin, alcaloid, sesquiterpen (acid polypiperic, polygodial 0,08%). (The Wealth of India VIII, 1969; CA 124: 284.344s; CA 122: 51.449y; CA 120: 48.066x).

5. Tác dụng dược lý

Cao chiết với ether và acid của cây nghể răm có tác dụng kháng khuẩn. Nghể răm có tác dụng kích thích, lợi tiểu, làm săn, điều kinh và làm tan sỏi; hoạt tính của rễ mất đi khi sấy khô.
Nghể răm có tác dụng nhuận tràng và chống lại độc lực của nọc rắn mang bành ở mức độ nhất định, nâng cao tỷ lệ sống hoặc kéo dài thời gian cầm cự cho động vật được tiêm nọc rắn. Rễ nghể răm, dưới dạng cao chiết với dầu hoả, cồn và nước cho thỏ uống với liều 100mg/kg trong 3 ngày, có tác dụng ức chế rụng trứng gây bởi acetat đồng (4mg/kg, tiêm tĩnh mạch một lần) ở thỏ với tỷ lệ 60%, 20%, 20% tương ứng. Cao rễ nghể răm chiết với dầu hoả cho chuột cống trắng cái uống liều 100mg/kg trong những ngày 1- 5 sau khi giao hợp đã ức chế thụ thai 100%. Rễ nghể răm không có tác dụng chống sinh sản ở giai đoạn mang thai muộn.

Gia súc ăn cây nghể răm bị viêm đường tiêu hoá và đái ra máu. Nghể răm gây viêm da tiếp xúc cả ở người và gia súc. Nước ngâm 5% nghể răm điệi 80% bọ gậy hoặc 50% dòi sau 3 ngày. Nghể răm kích thích co bóp tử cung.

6. Tính vị, công năng

Lá nghể răm tươi có vị cay thơm, tính nóng, có tác dụng tiêu tích trệ, sát khuẩn.