Cây dành dành là còn có tên khác là chi tử. Không chỉ là một loài cây cảnh, dành dành còn được dùng để chữa bệnh rất hiệu quả.
1. Nhận biết cây dành dành
Dành dành hay còn gọi là chi tử (Gardenia jasminoides Ellis), họ Cà phê (Rubiaceae). Cây dành dành có thể cao đến 1 – 2m, cành màu nâu, nhẵn, lá đơn, mọc đối, hay mọc vòng 3. Hoa to, màu trắng, hoặc trắng ngà, mọc đơn độc ở đầu cành. Quả hình trứng, dài 5 – 7cm có đài tồn tại ở đỉnh, và cạnh lồi có cánh, khi chín màu vàng. Hạt dẹt, hơi tròn, có chất cơm màu vàng hay đỏ bám bên ngoài. Là cây mọc hoang, hoặc được trồng làm cảnh và để lấy nguyên liệu làm thuốc.

Ở nước ta, dành dành phân bố phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, như Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam…. Một số vùng núi các tỉnh miền Trung, như Nghệ An, Hà Tĩnh… còn có cây dành dành núi hay còn gọi là sơn chi tử (Gardenia stenophylla Merr.), cùng họ Cà phê.
2. Tác dụng của dành dành trong việc chữa bệnh
Hầu như tất cả các bộ phận của dành dành đều được y học cổ truyền sử dụng làm thuốc. Cành và lá, chặt nhỏ phơi khô, khi dùng sao vàng. Quả khi gần chín, thu hái phơi khô; hoặc đem đồ chín rồi phơi khô. Sau đó bóc tách riêng phần vỏ quả và hạt. Hạt dành dành có thể chế biến bằng cách sao vàng, sao đen tùy theo yêu cầu của việc chữa bệnh. Hoa dành dành có thể dùng tươi hoặc phơi khô.
Lá dành dành chứa iridoid cerbinal, vỏ quả chứa thành phần a xít ursolic. Hạt chứa các hợp chất iridoidglycosid: gardosid, shanzhisid, geniposid… các a xít hữu cơ, các sắc tố α – crosin, α – crocetin… Hoa chứa steroid và tinh dầu.



