Ăn Mận đừng vứt Hạt, hóa ra chúng là vị thuốc quý

0
307

Hạt mận cứng thường bị vứt bỏ nhưng nếu bạn biết thông tin này sẽ thấy hạt mận có giá trị.

Mận là loại trái cây phổ biến và khá rẻ tiền ở Việt Nam trong mùa hè. Ăn mận ngọt ngọt,chua chua, giòn giòn khá hấp dẫn vị giác.

Trong Đông y, mận là một vị thuốc có tên gọi lý tử, lý thực. Toàn bộ các thành phần trên cây mận đều có giá trị dược tính.

 

Hạt mận cũng là một vị thuốc Hạt mận cũng là một vị thuốc

Hạt mận – Lý tử nhân: Giảm đau, hoạt huyết

Hạt mận được gọi là lý tử nhân hay lý hạch nhân, có chứa hoạt chất amygdalin. Đông y ghi nhận lý tử nhân có vị ngọt đắng, tính bình, vào kinh can. Công dụng chính:

Nhựa thu được từ thân cây mận khi để khô được gọi là lý thụ giao. Nhựa mận được dùng để:

  • Điều trị mắt có màng mộng
  • Tiêu viêm, giảm đau
  • Hỗ trợ mọc sởi ở trẻ em

Liều dùng thường là 8 – 16g/ngày, sắc lấy nước uống.

Rễ mận – Lý căn: Giải độc, thanh nhiệt

Rễ cây mận (lý căn) được thu hoạch vào mùa thu, từ tháng 9 đến 10 hàng năm. Vị đắng, sáp, hơi lạnh, có công dụng:

  • Thanh nhiệt, tiêu viêm
  • Giải độc, tiêu sưng
  • Điều trị tiểu buốt, tiểu rắt do viêm nhiễm đường tiết niệu
  • Trị lỵ ra máu, mụn nhọt, sốt cao ở trẻ

Liều dùng phổ biến từ 8 – 12g/ngày. Khi dùng ngoài, rễ mận được sao tồn tính, nghiền thành bột để đắp lên vết thương, mụn mủ.

 Vỏ rễ mận – Lý căn bì: Giảm nhiệt, hạ khí

Phần vỏ trắng bên ngoài rễ cây mận được gọi là lý căn bì, có vị mặn đắng, tính lạnh, quy vào kinh can. Một số công dụng nổi bật:

  • Thanh nhiệt, trừ uất nhiệt
  • Điều trị tiểu đường, khí nghịch
  • Hạ khí, giảm khó chịu do khí huyết kém lưu thông
  • Trị đau răng, lở loét ngoài da

Vỏ rễ có thể được sắc uống (8 – 12g/ngày), ngậm nuốt từng ngụm nhỏ hoặc đắp lên vùng tổn thương ngoài da.

Lưu ý khi sử dụng các bộ phận cây mận trong Đông y

Không dùng cho phụ nữ có thai, người tỳ vị yếu, người có vấn đề về tiêu hóa hoặc suy thận.

Sử dụng đúng liều lượng, tránh lạm dụng vì có thể gây phản tác dụng hoặc kích ứng.